Khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự: cấm đi khỏi nơi cư trú

Khoản 2 điều 123 bộ luật tố tụng hình sự

Mục lục

Khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định những nội dung mà người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan. Nội dung cam đoan gồm không đi khỏi nơi cư trú khi chưa được phép, có mặt theo giấy triệu tập và các nghĩa vụ khác theo quy định, cần đối chiếu văn bản điều luật. Đây là biện pháp ngăn chặn nhẹ hơn tạm giam, nhưng ràng buộc người bị áp dụng bằng các nghĩa vụ cụ thể.

Tóm tắt nhanh

  • Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự là biện pháp ngăn chặn, không phải tội giết người.
  • Người bị áp dụng phải cam đoan không tự ý rời nơi cư trú và có mặt khi được triệu tập.
  • Vi phạm cam đoan có thể bị thay đổi sang biện pháp nghiêm khắc hơn như tạm giam.
  • Cần có sự đồng ý của cơ quan đã ra lệnh trước khi rời nơi cư trú.

1. Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự là gì?

Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, một trong các biện pháp ngăn chặn tại Điều 109 của Bộ luật này. Biện pháp được áp dụng với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, nhằm bảo đảm họ có mặt theo giấy triệu tập và hạn chế nguy cơ bỏ trốn, cản trở tố tụng hoặc tiếp tục phạm tội.

Khoản 2 điều 123 bộ luật tố tụng hình sự quy định nghĩa vụ cam đoan của bị can bị cáo khi bị cấm đi khỏi nơi cư trú
Những điều cần lưu ý khi làm giấy cam đoan theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự

Cần phân biệt với Điều 123 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15, là quy định về tội giết người. Hai văn bản khác nhau: một bên là thủ tục tố tụng, một bên là tội danh. Người được áp dụng cấm đi khỏi nơi cư trú chưa phải là người bị kết tội; theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự, chỉ khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì một người mới bị coi là có tội.

So với tạm giam theo Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú không hạn chế người bị áp dụng ở trong cơ sở giam giữ. Họ vẫn sinh hoạt tại nơi cư trú nhưng chịu ràng buộc về đi lại và nghĩa vụ có mặt.

2. Thẩm quyền ra lệnh và cơ quan phối hợp

Người có thẩm quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, theo phạm vi thẩm quyền từng giai đoạn tố tụng. Thẩm quyền cụ thể theo từng cấp cần đối chiếu quy định hiện hành hoặc hỏi luật sư.

Từ 01/7/2025, hệ thống Tòa án gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực; Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức tương ứng. Vì vậy, khi vụ án ở giai đoạn truy tố hoặc xét xử, lệnh do người có thẩm quyền của Viện kiểm sát hoặc Tòa án thuộc mô hình này ban hành. Cơ quan ra lệnh thông báo cho chính quyền cấp xã nơi người đó cư trú để phối hợp quản lý, giám sát.

Bạn có thể tìm hiểu thêm về quyền hạn của người đứng đầu cơ quan điều tra tại Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3. Các nghĩa vụ phải cam đoan theo khoản 2 Điều 123

Theo khoản 2 Điều 123, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ dưới đây. Mỗi nghĩa vụ đều có ý nghĩa riêng đối với việc duy trì biện pháp này.

3.1. Không đi khỏi nơi cư trú nếu chưa được phép

Phạm vi nơi cư trú cần xác định theo quyết định áp dụng biện pháp và quy định pháp luật. Rời khỏi phạm vi này khi chưa được người có thẩm quyền đồng ý có thể bị coi là vi phạm cam đoan.

3.2. Có mặt theo giấy triệu tập

Bị can, bị cáo phải có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập. Nếu có lý do chính đáng như ốm đau, thiên tai, nên báo ngay cho cơ quan triệu tập kèm giấy tờ chứng minh. Vắng mặt không có lý do chính đáng có thể dẫn tới việc xem xét thay đổi biện pháp ngăn chặn.

Quyền bạn cần biết

  • Bị can có quyền nhờ người bào chữa, được bảo đảm theo Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng theo trình tự luật định.

3.3. Không cản trở hoạt động tố tụng và không phạm tội mới

Người bị áp dụng cam đoan không bỏ trốn, không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, không mua chuộc, cưỡng ép hay xúi giục người khác khai báo gian dối, không tiếp tục phạm tội. Hành vi cản trở tố tụng, ngoài việc bị thay đổi biện pháp ngăn chặn, còn có thể bị xem xét trách nhiệm riêng nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Về thu thập chứng cứ, bạn có thể tham khảo Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Rủi ro khi vi phạm Khoản 2 Điều 123 BLTTHS
Vi phạm cam đoan có thể ảnh hưởng đến việc xem xét hưởng án treo

4. Hậu quả khi vi phạm cam đoan

Khoản 3 Điều 123 cho phép áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trong đó có thể là tạm giam, nếu người bị áp dụng vi phạm cam đoan. Việc có thay đổi hay không tùy vào tính chất, mức độ vi phạm và đánh giá của người có thẩm quyền.

Ngoài ra, ở giai đoạn xét xử, Tòa án xem xét toàn diện nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật khi quyết định hình phạt và việc hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự. Một quá trình chấp hành nghiêm túc có thể là yếu tố có lợi, còn vi phạm có thể ảnh hưởng đến đánh giá chung, tùy từng vụ án. Các tình tiết như bồi thường, khắc phục hậu quả được xem xét theo Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Rủi ro cần tránh

  • Tự ý đi ra ngoài địa bàn cư trú khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản.
  • Vắng mặt khi có giấy triệu tập mà không báo lý do.
  • Liên hệ, tác động đến người làm chứng hoặc người bị hại để thay đổi lời khai.

5. Cách xin phép khi cần rời nơi cư trú

Khi có việc cấp thiết như khám chữa bệnh tuyến trên hoặc việc tang, bạn nên làm đơn nêu rõ lý do, thời gian, địa điểm đến và gửi người đã ra lệnh. Nên đợi có sự đồng ý rõ ràng, tốt nhất bằng văn bản, rồi mới di chuyển; lời nói qua điện thoại khó chứng minh khi cần đối chiếu.

Giấy tờ nên chuẩn bị

  • Đơn xin phép nêu rõ lý do, thời gian, nơi đến.
  • Giấy tờ chứng minh lý do (giấy khám bệnh, giấy báo tang…).
  • Bản sao quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú và giấy cam đoan.
Nội dungĐiểm chínhCăn cứ
Loại biện phápBiện pháp ngăn chặn, không phải kết tộiĐiều 109, Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự
Giấy cam đoanKhông rời nơi cư trú, có mặt khi triệu tập, không cản trở, không phạm tội mớiKhoản 2 Điều 123
Khi vi phạmCó thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khácKhoản 3 Điều 123

Việc có luật sư tham gia từ sớm giúp bạn hiểu rõ nghĩa vụ, chuẩn bị đơn xin phép đúng thủ tục và thực hiện quyền của bị can. Nếu đang bị áp dụng khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc người thân đang ở trong tình huống này, bạn có thể trao đổi với luật sư hình sự để được đánh giá hồ sơ cụ thể; luật sư không hứa hẹn trước kết quả vụ án.

6. Câu hỏi thường gặp về khoản 2 điều 123 bộ luật tố tụng

Cấm đi khỏi nơi cư trú có phải là tại ngoại không?

Về cách gọi thông dụng, người dân thường gọi tình trạng này là tại ngoại. Về pháp lý, đây là biện pháp ngăn chặn theo Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự, người bị áp dụng vẫn là bị can hoặc bị cáo và vẫn phải chấp hành các cam đoan.

Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự có phải tội giết người không?

Không. Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Tội giết người nằm ở Điều 123 Bộ luật Hình sự, là văn bản khác.

Ai có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú?

Người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án, tùy giai đoạn vụ án. Từ 01/7/2025, Tòa án và Viện kiểm sát tổ chức theo ba cấp: tối cao, cấp tỉnh và khu vực.

Tôi có được đi khám bệnh ở tỉnh khác khi đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú không?

Có thể, nhưng cần làm đơn xin phép nêu rõ lý do, thời gian, nơi đến và được người đã ra lệnh đồng ý trước khi đi. Nên kèm giấy tờ y tế để chứng minh.

Vi phạm giấy cam đoan thì bị xử lý thế nào?

Người có thẩm quyền có thể xem xét áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trong đó có tạm giam, theo khoản 3 Điều 123. Việc xử lý cụ thể phụ thuộc tính chất và mức độ vi phạm.

Cấm đi khỏi nơi cư trú có ảnh hưởng đến việc hưởng án treo không?

Án treo do Tòa án xem xét theo Điều 65 Bộ luật Hình sự dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật. Việc chấp hành nghiêm túc là điều có lợi, nhưng không bảo đảm kết quả.

Tư vấn và chịu trách nhiệm chuyên môn

Nội dung được biên soạn dưới sự chịu trách nhiệm chuyên môn của Luật sư Bùi Khắc Long — Thẻ luật sư số 15188/LS, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh. Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Duy Minh. Hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật hình sự; nguyên công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

Mỗi vụ việc hình sự có tình tiết riêng. Khi đã nhận giấy triệu tập, quyết định khởi tố, hoặc người thân bị tạm giữ, tạm giam, nên trao đổi trực tiếp với luật sư để được đánh giá hồ sơ và định hướng bảo vệ quyền lợi đúng pháp luật. Hotline: 0931 222 515.

Nội dung được rà soát theo quy định pháp luật có hiệu lực tại ngày 17/10/2026.

*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho từng vụ việc cụ thể. Quy định pháp luật có thể thay đổi theo thời gian; Quý bạn đọc vui lòng đối chiếu văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm áp dụng hoặc liên hệ Luật sư để được hướng dẫn chính xác cho trường hợp của mình.

Bài viết liên quan

Mời luật sư ngay từ giai đoạn điều tra giúp bảo đảm quyền tố tụng, kiểm soát biên bản hỏi cung và thu thập chứng cứ gỡ tội kịp thời cho người bị buộc tội.
Bản luận cứ bảo vệ trong vụ án hình sự là văn bản pháp lý giúp bị hại, đương sự bảo vệ quyền lợi và yêu cầu bồi thường đúng quy định tại tòa án.
Chửi người khác có phạm tội không tùy thuộc vào tính chất, mức độ xúc phạm và hậu quả thực tế đối với danh dự, nhân phẩm nạn nhân theo quy định pháp luật.
Các cấp xét xử của tòa án trong tố tụng hình sự gồm sơ thẩm và phúc thẩm. Tìm hiểu thẩm quyền xét xử và thủ tục kháng cáo bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Mẫu đơn xin hoãn thi hành án hình sự chuẩn pháp lý, hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ, tài liệu chứng minh và lưu ý tố tụng quan trọng khi nộp đơn lên Tòa án.
Giải đáp quy định người dưới 14 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự không theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, cùng trách nhiệm bồi thường và các bước xử lý pháp lý.
Bạn đang cần hỗ trợ pháp lý trong vụ việc hình sự?

Hãy để luật sư hình sự đồng hành cùng bạn!