Chửi người khác có phạm tội không? Ranh giới xử lý hình sự

Chửi người khác có phạm tội không — cặp tài liệu và hồ sơ của luật sư

Mục lục

Chửi người khác có phạm tội không là thắc mắc phổ biến khi phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hoặc trên không gian mạng. Hành vi chửi bới, lăng mạ người khác có thể chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác hoặc Tội vu khống nếu tính chất, mức độ xúc phạm danh dự, nhân phẩm đạt ngưỡng nghiêm trọng theo quy định pháp luật.

Điểm chính cần nắm

  • Chửi bới thông thường bị phạt tiền hành chính; nếu xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm sẽ bị xử lý hình sự.
  • Hành vi có thể cấu thành Tội làm nhục người khác hoặc Tội vu khống theo Bộ luật Hình sự.
  • Tội thuộc khoản 1 Điều 155 và khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại (Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự).
  • Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội là tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 155 và Điều 156 Bộ luật Hình sự.

1. Chửi người khác có phạm tội không theo quy định pháp luật?

Chửi người khác có phạm tội không — cặp tài liệu và hồ sơ của luật sư
Đánh giá chứng cứ xác định hành vi chửi người khác có phạm tội không

Quyền được bảo hộ về danh dự, nhân phẩm và uy tín là quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi xảy ra xích mích, việc dùng lời nói, chữ viết hoặc hình ảnh để lăng mạ người khác sẽ bị đánh giá dựa trên mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả thực tế. Nếu hành vi chỉ dừng lại ở mức bột phát, chưa gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống nạn nhân, người thực hiện chủ yếu bị xử lý hành chính.

Ngược lại, nếu hành vi chửi bới diễn ra công khai, kéo dài, có chủ đích hạ nhục hoặc đặt điều sai sự thật gây chấn thương tâm lý, trầm cảm hoặc tổn hại uy tín nặng nề cho người khác, người vi phạm hoàn toàn có thể bị khởi tố hình sự. Pháp luật hình sự không điều chỉnh các xích mích thuần túy mà chỉ can thiệp khi trật tự pháp luật và danh dự công dân bị xâm phạm tới mức phải áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất.

1.1. Khi nào hành vi chửi bới chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính

Phần lớn các vụ việc chửi bới phát sinh do va chạm giao thông, tranh chấp sinh hoạt thường ngày hoặc mâu thuẫn cá nhân nhất thời sẽ được xếp vào diện vi phạm hành chính. Ở mức độ này, các bên thường chỉ sử dụng lời lẽ thô tục để giải tỏa ức chế mà không có động cơ hủy hoại danh dự nạn nhân đến cùng.

Người có hành vi lăng mạ, khiêu khích hoặc xúc phạm danh dự người khác trong các trường hợp trên sẽ bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền. Đồng thời, người vi phạm có thể bị buộc phải xin lỗi công khai nếu gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh của đối phương.

1.2. Dấu hiệu cấu thành Tội làm nhục người khác hoặc Tội vu khống

Trách nhiệm hình sự được đặt ra khi hành vi thỏa mãn các dấu hiệu định tội cụ thể. Theo Điều 155 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15, người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác. Sự “nghiêm trọng” thể hiện qua tính chất thóa mạ tàn nhẫn, xúc phạm chỗ đông người, kéo dài hoặc làm nạn nhân hoảng loạn tinh thần.

Trong khi đó, nếu việc chửi bới gắn liền với hành vi bịa đặt, lan truyền điều biết rõ là sai sự thật nhằm bôi nhọ đối phương, hành vi sẽ bị truy cứu theo Điều 156 Bộ luật Hình sự về Tội vu khống. Nhóm tội này xâm phạm trực tiếp đến quyền nhân thân của con người.

Ví dụ giả định

Chị A và chị B xảy ra cãi vã tại khu dân cư, chị A đã dùng lời lẽ thô tục chửi chị B trong vài phút rồi giải tán, sự việc này chỉ dừng ở mức xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, nếu chị A liên tục in truyền đơn mang nội dung bịa đặt chị B trộm cắp, rải khắp nơi làm chị B bị suy sụp tinh thần phải điều trị y tế, hành vi của chị A có dấu hiệu cấu thành Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự.

2. Phân biệt ranh giới giữa vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự

Phòng tư vấn pháp lý phân tích ranh giới hành vi xúc phạm danh dự
Phân biệt ranh giới hành chính và hình sự khi có hành vi lăng mạ người khác

Để xác định đúng chế tài áp dụng, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá toàn diện động cơ, phương thức thực hiện, không gian diễn ra hành vi và hậu quả thực tế tác động lên nạn nhân. Việc đánh giá ranh giới pháp lý đòi hỏi đối chiếu các tiêu chí định tính và chứng cứ cụ thể thu thập được.

Việc phân định ranh giới giữa hai hình thức xử lý được khái quát qua các tiêu chí sau:

Tiêu chí phân địnhHành vi vi phạm hành chínhHành vi phạm tội hình sựCăn cứ pháp lý áp dụng
Mức độ và tính chất hành viLời lẽ thô tục nhất thời, tính chất bộc phát, chưa mang tính hạ nhục có hệ thốngLăng mạ tàn nhẫn, xúc phạm nghiêm trọng hoặc bịa đặt sai sự thật có chủ đíchĐiều 155, Điều 156 Bộ luật Hình sự
Hậu quả đối với người bị hạiGây bực tức, khó chịu nhất thời, chưa tổn hại sâu sắc tinh thầnNạn nhân bị rối loạn tâm thần, suy sụp tinh thần hoặc ảnh hưởng đặc biệt xấu đến cuộc sốngĐiều 155 Bộ luật Hình sự
Môi trường và phạm vi tác độngPhạm vi hẹp, giữa hai cá nhân hoặc nhóm nhỏ, ít người chứng kiếnNơi công cộng đông người, phát tán qua mạng xã hội, phương tiện truyền thôngKhoản 2 Điều 155, khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự
Cơ chế xử lý của cơ quan chức năngCơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiềnCơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, khởi tố vụ án và điều tra theo thủ tục tố tụngBộ luật Tố tụng hình sự

Cần lưu ý rằng việc xác định mức độ nghiêm trọng không phụ thuộc hoàn toàn vào cảm nhận chủ quan của nạn nhân mà phải căn cứ vào thái độ của người thực hiện, dư luận xã hội và các chứng cứ y khoa nếu nạn nhân bị ảnh hưởng sức khỏe tâm thần. Cần theo dõi sát thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự để đảm bảo quyền yêu cầu xử lý không bị hết hiệu lực theo luật định.

3. Đánh giá rủi ro pháp lý khi xúc phạm danh dự người khác qua mạng xã hội

Luật sư nghiên cứu hồ sơ xử lý hành vi chửi người khác trên mạng
Đánh giá rủi ro định khung khi xúc phạm danh dự trên không gian mạng

Không gian mạng tạo ra tốc độ lan truyền thông tin theo cấp số nhân, khiến hậu quả của việc thóa mạ trực tuyến trở nên nghiêm trọng hơn nhiều so với việc cãi vã trực tiếp ngoài đời thực. Một bài viết, video phát trực tiếp (livestream) hoặc bình luận mang tính xúc phạm có thể tiếp cận hàng nghìn người chỉ trong thời gian ngắn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho hình ảnh cá nhân của nạn nhân.

Hành vi chửi bới trên mạng internet không còn là tranh chấp riêng tư mà đã trở thành hành vi phát tán thông tin công cộng. Cơ quan điều tra có đầy đủ nghiệp vụ kỹ thuật để trích xuất dữ liệu, định danh tài khoản và thu thập chứng cứ số để làm rõ hành vi phạm tội.

3.1. Tình tiết sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông định khung hình phạt

Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 và khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự, hành vi sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội là tình tiết định khung tăng nặng. Khi rơi vào khung này, mức hình phạt sẽ cao hơn đáng kể so với khung hình phạt cơ bản ở khoản 1.

Đặc biệt, theo quy định tại điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, chỉ các tội thuộc khoản 1 Điều 155 và khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự mới khởi tố theo yêu cầu của bị hại; trường hợp thuộc khoản 2 không thuộc diện này. Điều này đồng nghĩa cơ quan tiến hành tố tụng có quyền chủ động khởi tố vụ án khi phát hiện dấu hiệu tội phạm mà không phụ thuộc vào việc nạn nhân có làm đơn yêu cầu hay không.

3.2. Nguy cơ bị xử lý hình sự nếu gây rối trật tự công cộng

Bên cạnh Tội làm nhục người khác và Tội vu khống, nếu hành vi chửi bới, kích động đám đông tụ tập chửi bới nhau ngoài đời thực hoặc kêu gọi bạo lực trên mạng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, người vi phạm còn có thể bị xem xét về Tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Việc kéo người đến nhà riêng, nơi làm việc của đối phương để chửi bới, livestream gây náo loạn khu phố là biểu hiện điển hình của hành vi xâm phạm trật tự công cộng. Khi đó, tính chất vụ việc không chỉ dừng ở xâm phạm nhân phẩm cá nhân mà chuyển hóa thành xâm phạm trật tự quản lý chung của Nhà nước.

Quyền bạn cần biết

  • Quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm theo Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tổn thất tinh thần do hành vi lăng mạ gây ra.
  • Quyền rút đơn yêu cầu khởi tố đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu bị hại trước khi mở phiên tòa sơ thẩm.

4. Làm gì khi bị người khác chửi bới, xúc phạm danh dự nhân phẩm?

Khi bị xúc phạm nghiêm trọng, việc giữ bình tĩnh và không dùng lời lẽ chửi bới đáp trả là yếu tố quyết định để giữ vững vị thế pháp lý của người bị hại. Việc chửi bới qua lại có thể khiến cơ quan chức năng xác định cả hai bên cùng có lỗi, dẫn đến việc chỉ xử phạt hành chính đối với cả hai phía.

Người bị hại cần chủ động thực hiện các biện pháp tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình thông qua quy trình tố giác tội phạm đúng trình tự được quy định tại Văn bản hợp nhất Bộ luật Tố tụng hình sự số 172/VBHN-VPQH.

4.1. Các bước thu thập và bảo toàn chứng cứ hợp pháp

Chứng cứ là nền tảng để cơ quan điều tra đánh giá mức độ vi phạm. Nếu thông tin bị xóa bỏ trước khi kịp ghi nhận, việc chứng minh hành vi phạm tội sẽ gặp nhiều trở ngại. Do đó, nạn nhân cần khẩn trương thực hiện các biện pháp bảo toàn dấu vết:

  • Lập vi bằng: Yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận lại toàn bộ hình ảnh bài đăng, video, bình luận hoặc tin nhắn xúc phạm trên mạng xã hội trước khi đối tượng gỡ bỏ.
  • Thu thập dữ liệu điện tử: Lưu trữ tệp tin ghi âm cuộc gọi, đoạn phim trích xuất từ camera an ninh, chụp màn hình tin nhắn có hiển thị rõ số điện thoại hoặc định danh tài khoản của người chửi bới.
  • Hồ sơ y tế và giám định: Thu thập bệnh án điều trị tâm lý, đơn thuốc an thần (nếu có) để chứng minh hậu quả tổn hại sức khỏe tinh thần do hành vi lăng mạ gây ra.
  • Xác nhận từ nhân chứng: Thu thập biên bản làm việc hoặc lời khai của những người chứng kiến sự việc cãi vã, lăng mạ nơi công cộng.

4.2. Thời điểm cần luật sư hỗ trợ làm việc với cơ quan có thẩm quyền

Sau khi thu thập đầy đủ chứng cứ, người bị hại cần gửi đơn tố giác nguồn tin về tội phạm kèm theo đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự tới cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận theo Điều 144 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bạn đang băn khoăn liệu chứng cứ hiện có đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự hay chưa? Hành vi lăng mạ bạn đang phải chịu đựng chỉ bị phạt tiền hay có thể xử lý tù giam? Bạn có thể tham khảo ý kiến từ luật sư bảo vệ người bị hại để được đánh giá hồ sơ, hướng dẫn soạn thảo đơn từ đúng quy chuẩn và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trong suốt quá trình tố tụng.

5. Câu hỏi thường gặp về chửi người khác có phạm tội không

Chửi người khác trên mạng xã hội bị xử lý như thế nào?

Chửi người khác trên mạng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự nếu tính chất xúc phạm đạt mức nghiêm trọng.

Bị chửi bới xúc phạm danh dự thì cần tố giác ở đâu?

Người bị hại có thể nộp đơn tố giác tội phạm hoặc đơn kiến nghị xử lý kèm theo toàn bộ tài liệu, chứng cứ chứng minh tới cơ quan có thẩm quyền tại địa phương nơi xảy ra hành vi vi phạm hoặc nơi đối tượng cư trú.

Tội làm nhục người khác có bắt buộc phải có đơn yêu cầu của bị hại không?

Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, chỉ trường hợp phạm tội thuộc khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự mới bắt buộc phải có đơn yêu cầu của bị hại. Trường hợp thuộc khoản 2 trở lên (như sử dụng mạng xã hội), cơ quan tiến hành tố tụng sẽ chủ động khởi tố.

Tin nhắn và ghi âm chửi bới có được dùng làm chứng cứ tố giác không?

Tin nhắn và bản ghi âm có thể được xem xét là nguồn chứng cứ nếu được thu thập nguyên vẹn, không bị cắt ghép, chỉnh sửa và được lập vi bằng hoặc giám định tư pháp theo quy định.

Chửi người khác tại nơi công cộng có bị xem là gây rối trật tự không?

Nếu hành vi chửi bới gây ồn ào, tụ tập đông người làm mất an ninh trật tự khu vực hoặc cản trở hoạt động bình thường của cộng đồng, người thực hiện có thể bị xem xét về Tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Người bị xúc phạm danh dự có được yêu cầu bồi thường thiệt hại không?

Người bị hại có quyền yêu cầu người thực hiện hành vi bồi thường thiệt hại bao gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất và một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần theo quy định pháp luật.

Tư vấn và chịu trách nhiệm chuyên môn

Nội dung được biên soạn dưới sự chịu trách nhiệm chuyên môn của Luật sư Bùi Khắc Long — Thẻ luật sư số 15188/LS, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh. Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Duy Minh. Hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật hình sự; nguyên công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

Mỗi vụ việc hình sự có tình tiết riêng. Khi đã nhận giấy triệu tập, quyết định khởi tố, hoặc người thân bị tạm giữ, tạm giam, nên trao đổi trực tiếp với luật sư để được đánh giá hồ sơ và định hướng bảo vệ quyền lợi đúng pháp luật. Hotline: 0984 138 515.

Nội dung được rà soát theo quy định pháp luật có hiệu lực tại ngày 19/10/2026.

*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho từng vụ việc cụ thể. Quy định pháp luật có thể thay đổi theo thời gian; Quý bạn đọc vui lòng đối chiếu văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm áp dụng hoặc liên hệ Luật sư để được hướng dẫn chính xác cho trường hợp của mình.

Bài viết liên quan

Các cấp xét xử của tòa án trong tố tụng hình sự gồm sơ thẩm và phúc thẩm. Tìm hiểu thẩm quyền xét xử và thủ tục kháng cáo bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Mẫu đơn xin hoãn thi hành án hình sự chuẩn pháp lý, hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ, tài liệu chứng minh và lưu ý tố tụng quan trọng khi nộp đơn lên Tòa án.
Giải đáp quy định người dưới 14 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự không theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, cùng trách nhiệm bồi thường và các bước xử lý pháp lý.
Đánh bạc đi tù bao nhiêu năm? Tội đánh bạc có hai khung hình phạt chính tại Điều 321 Bộ luật Hình sự, từ phạt tiền, cải tạo không giam giữ đến phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Người chưa thành niên phạm tội được xử lý theo nguyên tắc ưu tiên giáo dục: độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, giới hạn hình phạt, câu trả lời cho câu hỏi 16 tuổi có bị đi tù không và quyền bào chữa.
Người bị hại trong vụ án hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra. Bài viết nêu khái niệm, quyền, nghĩa vụ và cách bảo vệ quyền lợi.
Bạn đang cần hỗ trợ pháp lý trong vụ việc hình sự?

Hãy để luật sư hình sự đồng hành cùng bạn!